VN
EN

Y sinh

Những mối nguy hại tiềm ẩn mà trẻ sinh non phải đối diện

Mục lục

Mục lục

Những mối nguy hại tiềm ẩn mà trẻ sinh non phải đối diện 

Sinh non tiềm ẩn trong rất nhiều mối nguy hại, không chỉ cho sức khỏe đứa trẻ sinh non mà còn cho cả tương lai sau đó. Một đứa trẻ sinh non dù sống sót vẫn có thể đối mặt với những nguy cơ về sức khỏe cho đến tuổi trưởng thành. 

Do đó việc dự phòng và điều trị cho những sản phụ có nguy cơ sinh non rất quan trọng. Một đứa trẻ khỏe mạnh, được sinh ở tuần thai thứ 39 luôn luôn xứng đáng với sự chờ đợi của gia đình và xã hội. Cùng tìm hiểu những hậu quả của nguy cơ sinh non để không chủ quan trong việc quản ký thai kỳ 

Sinh non là gì? 

Định nghĩa của WHO, trẻ sinh non sẽ được chia theo 3 mức độ: 

  • Sinh non: Những em bé sinh ra trong khoảng giữa tuần thứ 32 và 37 – chiếm 84% tổng số trẻ sinh non (12.5 triệu). Phần lớn trong số chúng sống sót, có thể phải nhờ vào chăm sóc hỗ trợ. 
  • Rất non: Những em bé sinh giữa tuần thứ 28 và 32. Những em bé này cần nhiều chăm sóc hỗ trợ hơn và phần nhiều trong số chúng vẫn sẽ có thể sống sót. 
  • Cực non: Những em bé sinh trước tuần thứ 28. Những em bé này cần thiết điều trị tích cực để sống sót. Ở những nước phát triển, những em bé sinh cực non có 90% cơ hội sống sót dù chúng phải chịu những di chứng sau này. Ở những nước kém phát triển, cơ hội sống sót chỉ khoảng 10% 

Tác hại của sinh non ngay lập tức trên trẻ sơ sinh 

  • Thiếu máu (Anemia): Trẻ sinh non nằm trong những đơn vị chăm sóc đặc biệt phải được lấy máu thường xuyên để theo dõi sức khỏe. Điều này vô hình chung dẫn đến việc chúng không thể tái tạo lại đủ, kịp thời lượng máu đã mất trong quá trình lấy máu xét nghiệm nên gây thiếu máu. Thiếu máu gây nên bão hòa oxy và nồng độ glucose trong máu thấp, làm cho các cơ quan trong cơ thể trẻ không thể hoạt động ổn định. 
  • Chứng ngừng thở ở trẻ sinh non (Apnea of prematurity): Trẻ ngừng thở trong vòng 15 đến 20 giây hoặc hơn, nó có thể diễn ra cùng lúc với chứng chậm nhịp tim. 
  • Loạn sản phế quản phổi (Bronchopulmonary dysplasia): Bệnh phổi này xuất hiện ở trẻ sinh non phải thở máy. Trẻ mắc bệnh này thường có nguy cơ mắc bệnh về phổi cao hơn trẻ em bình thường khác và đôi khi có thể bị tổn thương phổi. 
  • Hội chứng suy hô hấp cấp (Respiratory Distress Syndrome): Thường trẻ mắc phải hội chứng này do phổi của chúng không thể tạo ra đủ surfartant, làm giãn nở phổi  
  • Chảy máu não (Intraventricular hemorrhage): Trẻ càng sinh non, tỷ lệ mắc bệnh càng cao. 
  • Vàng da (Jaundice): Vàng da ở trẻ đẻ non thường nhiều và kéo dài hơn so với trẻ đủ tháng. Vàng da do sự tích tụ bilirubin trong máu. Điều này cho thấy gan của trẻ chưa phát triển hết hoặc hoạt động không bình thường. 

Vàng da sơ sinh - Những điều cần biết - Bệnh Viện Nhi Đồng Thành Phố 

  • Viêm ruột hoại tử (Necrotizing enterocolitis): Bệnh này rất nghiêm trọng, ảnh hưởng đến ruột non của trẻ. Khi trẻ mắc bệnh này, đồng nghĩa với việc nhu mô ruột bị tổn thương hoặc bắt đầu hoại tử. 
  • Còn ống động mạch (Patent ductus arteriosus): là một khuyết tật tim bẩm sinh trong đó ống động mạch (một mạch nối động mạch phổi với phần động mạch chủ đi xuống) không đóng được. Nếu không được điều trị kịp thời có thể dẫn đến tăng huyết áp phổi, rối loạn nhịp tim (nhịp tim không đều) và suy tim sung huyết 
  • Bệnh võng mạc trẻ sinh non (Retinopathy of prematurity- ROP): Là chứng rối loạn thị lực - thường phát triển ở cả hai mắt - là một trong những nguyên nhân phổ biến nhất gây mất thị giác ở trẻ em và có thể dẫn đến suy giảm thị lực suốt đời và mù lòa 

 

 

Hậu quả sức khỏe lâu dài của trẻ sinh non 

Ngoài những rủi ro về sức khỏe sau sinh, trẻ đẻ non có thể còn phải đối mặt với một trong những rủi ro sức khỏe lâu dài cho đến tuổi trưởng thành sau đây: 

  • Bại não: Bao gồm rối loạn vận động - trương lực cơ, có thể gây nên bởi nhiễm trùng, lưu lượng máu giảm hoặc chấn thương não bộ của trẻ sinh non. 
  • Học kém: Trẻ sinh non có nhiều khả năng tụt hậu so với các bạn đủ tháng cùng lứa tuổi. 
  • Vấn đề về thị lực: Bệnh võng mạc trẻ sinh non có thể gây suy giảm thị lực trong nhiều năm, thậm chí gây mù nếu không được chữa trị kịp thời. 
  • Vấn đề thính lực: Cho dù trẻ sinh non được kiểm tra về thính lực trước khi xuất viện, nhưng vẫn tiềm ẩn nguy cơ suy giảm thính lực về lâu dài. 
  • Vấn đề răng miệng: Trẻ sinh non có nguy cơ gặp các vấn đề về phát triển răng, chẳng hạn như mọc răng chậm, răng xỉn màu và răng mọc không đúng cách. 
  • Vấn đề hành vi và tâm lý: Trẻ sinh non có thể có nguy cơ có một số vấn đề về hành vi hoặc tâm lý cũng như chậm phát triển trí tuệ hơn trẻ đủ tháng. 
  • Các vấn đề sức khỏe mãn tính: Trẻ sinh non có nhiều khả năng gặp các vấn đề sức khỏe mãn tính - một số trong đó có thể cần được chăm sóc tại bệnh viện - hơn là trẻ đủ tháng như nhiễm trùng, hen suyễn và các vấn đề về ăn uống. Trẻ sinh non cũng có nguy cơ mắc hội chứng đột tử ở trẻ sơ sinh (SIDS) 

 

Dự phòng sinh non là yếu tố quan trọng ngăn chặn sinh non 

Dự phòng sinh non đóng vai trò then chốt trong việc giảm tỷ lệ sinh non và các biến chứng nghiêm trọng cho trẻ sơ sinh. Việc phát hiện sớm nguy cơ sinh non giúp bác sĩ có thời gian can thiệp kịp thời, tối ưu hóa chăm sóc thai kỳ.  

Actim Partus hỗ trợ dự phòng sinh non bằng cách phát hiện phIGFBP-1. Kết quả test nhanh giúp loại trừ nguy cơ sinh non trong 1-2 tuần khi kết quả âm tính, tránh điều trị không cần thiết, đồng thời nhận diện sớm các trường hợp nguy cơ cao để theo dõi sát và xử trí phù hợp. Nhờ đó, Actim Partus góp phần quan trọng trong chiến lược dự phòng sinh non, bảo vệ sức khỏe mẹ và trẻ sơ sinh 

Tìm hiểu thêm về Actim Partus tại đây: 

Actim Partus – Giải pháp test nhanh giúp hỗ trợ chẩn đoán nguy cơ sinh non hiệu quả

phIGFBP-1 trong chẩn đoán nguy cơ sinh non

Lưu ý: Sản phẩm không được tự ý sử dụng tại nhà, sản phẩm phải thao tác bởi bác sĩ chuyên khoa sản 

 

SISC GROUP hiện tại là nhà phân phối chính hãng test nhanh Actim tại Việt Nam. Để tìm hiểu thêm về sản phẩm quý khách hàng vui lòng liên hệ theo thông tin dưới đây  

 

Liên hệ
message zalo